Chào mừng quý vị đến với website của Phòng GD-ĐT Châu Thành
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành
viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của
Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Giáo án tổng hợp

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Đào Tấn Hùng
Ngày gửi: 20h:26' 28-09-2017
Dung lượng: 5.5 MB
Số lượt tải: 82
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Đào Tấn Hùng
Ngày gửi: 20h:26' 28-09-2017
Dung lượng: 5.5 MB
Số lượt tải: 82
Số lượt thích:
0 người
CHUYÊN ĐỀ
Sử dụng sơ đồ tư duy qua phần tổng kết bài học để nâng cao chất lượng dạy học môn Sinh học ở lớp 7A trường THCS Hoa Hội
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tổng kết bài giảng là một khâu quan trọng của bài giảng, là một yếu tố dẫn đến sự thành công của bài giảng. Tổng kết bài giảng giúp học sinh nhớ lại và khắc sâu kiến thức hơn. Ngoài việc xác định kiến thức trọng tâm, học sinh còn có thể tự đánh giá kết quả học tập của mình. Từ đó các em có thể điều chỉnh lại phương pháp học sao cho phù hợp.
Bằng các phương pháp tổng kết bài giảng cụ thể, giáo viên sẽ giúp học sinh phát huy tính tích cực, chủ động trong việc tiếp thu nội dung bài, đồng thời mở rộng và phát triển tư duy cho học sinh .
Tổng kết bài giảng còn tạo điều kiện tương tác giữa giáo viên và học sinh. Điều đó tạo hứng thú học tập cho học sinh, nuôi dưỡng bầu không khí lớp học, tạo điều kiện để học sinh phát biểu ý kiến.
Từ những lí do trên, tôi hình thành ý tưởng đó là ứng dụng bản đồ tư duy trong các nội dung bài học để có thể phát huy tối đa năng lực của mỗi cá nhân cũng như hiệu quả học tập. Vì vậy tôi lựa chọn chuyên đề “Sử dụng sơ đồ tư duy qua phần tổng kết bài học để nâng cao chất lượng dạy học môn Sinh học ” trong các tiết dạy của mình nhằm nâng cao kết quả dạy-học.
II. CƠ SỞ LÍ LUẬN
Bản đồ tư duy (BĐTD) còn gọi là sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy,… là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức,… bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực. Đặc biệt đây là một sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một chủ đề nhưng mỗi người có thể “thể hiện” nó dưới dạng BĐTD theo một cách riêng, do đó việc lập BĐTD phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người.
BĐTD chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới liên tưởng (các nhánh). Có thể vận dụng BĐTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương, mỗi học kì... và nó còn giúp cán bộ quản lí giáo dục lập kế hoạch công tác.
Qua nghiên cứu và thực nghiệm giảng dạy cho thấy một số GV còn gặp khó khăn trong việc tổ chức hoạt động dạy học trên lớp với việc thiết kế và sử dụng BĐTD cũng như chưa phát huy tối đa của HS về cách học bài bằng sơ đồ tư duy cực hiệu quả.
III. CƠ SỞ THỰC TIỄN
1. Đặc điểm tình hình:
- Được sự quan tâm của chính quyền địa phương cũng như lãnh đạo nhà trường, trường THCS Hòa Hội có cơ sở vật chất phục vụ cho việc giảng dạy tương đối tốt, phòng học kiên cố, sạch sẽ đúng qui cách, có đồ dùng dạy học tương đối đầy đủ cho các khối lớp.
- Giáo viên được tham gia tập huấn các lớp bồi dưỡng, nắm được các phương pháp dạy học tích cực cũng như các kĩ thuật dạy học tích cực đặc biệt là kĩ thuật dạy học sử dụng bản đồ tư duy GV trong Tổ cũng như GV toàn trường được tập huấn nhiều lần.
- Học sinh trường THCS Hòa Hội đa phần là các em ngoan chịu khó trong học tập, các em có tương đối đầy đủ sách giáo khoa.
2. Thực trạng và nguyên nhân
- Đây là phương pháp dạy học mới nên giáo viên và học sinh không tránh khỏi lúng túng trong một số kĩ năng như sử dụng lúc nào, như thế nào, sưu tầm, xử lý thông tin, vẽ, ý tưởng…
- Đòi hỏi giáo viên phải có nhiều kĩ năng khác ngoài kĩ năng sư phạm.
- Giáo viên khó khăn trong việc đánh giá cụ thể hiệu quả làm việc của từng học sinh .
- Năng lực học sinh không đồng đều nên đôi khi việc vẽ bản đồ tư duy trong học tập là sự máy móc không hiệu quả.
- Quan niệm của xã hội, gia đình, và đặc biệt là học sinh đối với bộ môn này đôi khi còn lệch lạc: chưa đầu tư, dành sự quan tâm, chưa chú ý, xem thường hoặc học cho xong.
3. Giới hạn:
- Đối tượng nghiên cứu:
Kĩ thuật sử dụng BĐTD trong dạy và học theo
Sử dụng sơ đồ tư duy qua phần tổng kết bài học để nâng cao chất lượng dạy học môn Sinh học ở lớp 7A trường THCS Hoa Hội
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tổng kết bài giảng là một khâu quan trọng của bài giảng, là một yếu tố dẫn đến sự thành công của bài giảng. Tổng kết bài giảng giúp học sinh nhớ lại và khắc sâu kiến thức hơn. Ngoài việc xác định kiến thức trọng tâm, học sinh còn có thể tự đánh giá kết quả học tập của mình. Từ đó các em có thể điều chỉnh lại phương pháp học sao cho phù hợp.
Bằng các phương pháp tổng kết bài giảng cụ thể, giáo viên sẽ giúp học sinh phát huy tính tích cực, chủ động trong việc tiếp thu nội dung bài, đồng thời mở rộng và phát triển tư duy cho học sinh .
Tổng kết bài giảng còn tạo điều kiện tương tác giữa giáo viên và học sinh. Điều đó tạo hứng thú học tập cho học sinh, nuôi dưỡng bầu không khí lớp học, tạo điều kiện để học sinh phát biểu ý kiến.
Từ những lí do trên, tôi hình thành ý tưởng đó là ứng dụng bản đồ tư duy trong các nội dung bài học để có thể phát huy tối đa năng lực của mỗi cá nhân cũng như hiệu quả học tập. Vì vậy tôi lựa chọn chuyên đề “Sử dụng sơ đồ tư duy qua phần tổng kết bài học để nâng cao chất lượng dạy học môn Sinh học ” trong các tiết dạy của mình nhằm nâng cao kết quả dạy-học.
II. CƠ SỞ LÍ LUẬN
Bản đồ tư duy (BĐTD) còn gọi là sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy,… là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức,… bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực. Đặc biệt đây là một sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một chủ đề nhưng mỗi người có thể “thể hiện” nó dưới dạng BĐTD theo một cách riêng, do đó việc lập BĐTD phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người.
BĐTD chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới liên tưởng (các nhánh). Có thể vận dụng BĐTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương, mỗi học kì... và nó còn giúp cán bộ quản lí giáo dục lập kế hoạch công tác.
Qua nghiên cứu và thực nghiệm giảng dạy cho thấy một số GV còn gặp khó khăn trong việc tổ chức hoạt động dạy học trên lớp với việc thiết kế và sử dụng BĐTD cũng như chưa phát huy tối đa của HS về cách học bài bằng sơ đồ tư duy cực hiệu quả.
III. CƠ SỞ THỰC TIỄN
1. Đặc điểm tình hình:
- Được sự quan tâm của chính quyền địa phương cũng như lãnh đạo nhà trường, trường THCS Hòa Hội có cơ sở vật chất phục vụ cho việc giảng dạy tương đối tốt, phòng học kiên cố, sạch sẽ đúng qui cách, có đồ dùng dạy học tương đối đầy đủ cho các khối lớp.
- Giáo viên được tham gia tập huấn các lớp bồi dưỡng, nắm được các phương pháp dạy học tích cực cũng như các kĩ thuật dạy học tích cực đặc biệt là kĩ thuật dạy học sử dụng bản đồ tư duy GV trong Tổ cũng như GV toàn trường được tập huấn nhiều lần.
- Học sinh trường THCS Hòa Hội đa phần là các em ngoan chịu khó trong học tập, các em có tương đối đầy đủ sách giáo khoa.
2. Thực trạng và nguyên nhân
- Đây là phương pháp dạy học mới nên giáo viên và học sinh không tránh khỏi lúng túng trong một số kĩ năng như sử dụng lúc nào, như thế nào, sưu tầm, xử lý thông tin, vẽ, ý tưởng…
- Đòi hỏi giáo viên phải có nhiều kĩ năng khác ngoài kĩ năng sư phạm.
- Giáo viên khó khăn trong việc đánh giá cụ thể hiệu quả làm việc của từng học sinh .
- Năng lực học sinh không đồng đều nên đôi khi việc vẽ bản đồ tư duy trong học tập là sự máy móc không hiệu quả.
- Quan niệm của xã hội, gia đình, và đặc biệt là học sinh đối với bộ môn này đôi khi còn lệch lạc: chưa đầu tư, dành sự quan tâm, chưa chú ý, xem thường hoặc học cho xong.
3. Giới hạn:
- Đối tượng nghiên cứu:
Kĩ thuật sử dụng BĐTD trong dạy và học theo
 














Các ý kiến mới nhất